Dòng họ – nguồn mạch truyền thống

Lễ hội đền Thượng

Ở Việt Nam, dòng họ bền vững trong nếp sống cộng đồng. Lịch sử của một làng có khi từ một gia đình sinh cơ lập nghiệp. Gia đình lớn dần thành chi, thành phái. Tổ họ đồng thời là Thành hoàng, thành tổ nghề và họ truyền cho con cháu hậu duệ giữ lấy nghiệp lấy nghề, giữ lấy truyền thống làng xã, tổ phụ. Bởi thế mối liên kết dòng họ tưởng như không thành văn, thành luật nhưng vô cùng chặt chẽ, không chỉ một vài đời con cháu mà nhiều nơi hội đồng gia tộc truyền đời tới vài ba chục thế hệ.

Trong cuốn tộc phả dòng họ Nguyễn Ðình ở Nghệ An, mở đầu trang trọng truyền lại cháu con: “Muôn vật sinh ra là nhờ có đất trời, con người sinh ra là nhờ có Tổ tiên. Lòng biết ơn Tiên tổ từ bao đời nay đã là nét cao đẹp trong nhân cách con người. Biết ơn Tổ tiên, con người có thêm sức mạnh tinh thần để yêu giang san, xã tắc, có thêm hạnh phúc bền lâu với đời…”. Mới hay, việc lập đền, thờ cúng Tổ tiên chứa đựng trong đó tâm thức hướng tới đạo nghĩa làm người ở trong trời đất.

Mối liên kết tộc họ bằng nhiều cách riêng, tùy tập quán địa phương, những quy thức của từng họ mà lâu đời trở thành nền nếp, thành tập quán và truyền thống. Tuy nhiên tính tương đồng mang tính phổ quát. Dòng họ có nhà thờ Tổ. Ngày giỗ, con cháu thập phương tìm đường về thắp hương, dâng lễ tạ ơn Tiên tổ, trời đất. Ðây cũng là dịp các chi xa chi gần tìm về nhận họ hàng, phân định trên dưới, anh em. Những cuộc đoàn tụ như vậy thường diễn ra vào ngày giỗ tổ, hoặc tháng 3, tháng 7 âm lịch, nhằm vào tiết Thanh Kinh hằng năm. Ðó là những dịp gặp gỡ ấm tình huyết thống và cảm động. Cháu con chung sức xây dựng tôn tạo nhà tờ, sửa sang phần mộ. Ðây cũng là dịp để họ đương chi phái kiểm điểm lại những việc cháu con đã làm, những công tích đáng ghi. Theo đó cuốn gia phả, tộc phả có dịp ghi thêm vào truyền thống của dòng họ mình đời này qua đời khác.

Hằng năm, cứ đến ngày 28 tháng 2 âm lịch tại làng Kim Ðôi tỉnh Bắc Ninh dù ai đi đâu về đâu cũng nhớ về giỗ Tổ để tự hào về tổ tiên dòng họ. Trong số 25 tiến sĩ của làng mà bia đá còn ngời ngời nơi Quốc Tử Giám, có tới 18 vị tiến sĩ dòng họ Nguyễn với 13 đời nối tiếp đỗ đại khoa. Ðặc biệt trong đó có 1 gia đình 5 anh em đỗ tiến sĩ trong 4 khoa thi Ðình liên tiếp. Hiếu học là một bằng chứng của truyền thống văn hóa dòng họ. Nhưng không chỉ có thế. Trong gia đình, họ đương nhiều đời truyền lại cháu con nghề truyền thống mà nay thường gọi là nghề gia truyền. Nghề ươm tơ dệt vải, nghề rèn, nghề mộc, nghề chạm khảm, nghề đúc đồng, nặn tượng v.v… Khởi thủy của dòng nghề đó là từ một gia đình, một dòng họ.

Dòng họ trong cuộc sống cộng đồng người Việt mang đậm bản sắc văn hóa. Cây có gốc có rễ, người có nguồn có cội. Bởi thế mà nhiều người Việt, dù đã sống xa Tổ quốc nhưng vẫn hướng lòng về xứ sở, về nguồn cội thiêng liêng của mình. Mấy năm về trước, dòng họ Lý đã đón tiếp hậu duệ một quân vương họ Lý phiêu bạt sang Hàn Quốc. Tính đến nay đã ngót 9 thế kỷ mà con cháu họ Lý vẫn không nguôi nhớ về Tổ tiên xa xưa của mình. Nhiều Việt kiều xa nước, chưa có điều kiện về lại quê hương, đã gửi tiền về cho Hội đồng tộc họ để góp phần mình tu tạo nhà thờ, phần mộ Tổ tông.

Nhiều người tâm huyết với văn hóa dòng họ đã để công trong nhiều thập kỷ nghiên cứu, sưu tầm hệ thống những tinh hoa, truyền thống của dòng họ Việt Nam nói chung cũng như của một số dòng họ đặc sắc trong lịch sử, đóng góp xứng đáng cho sự phát triển văn hóa dân tộc. Cuốn sách công phu “Tìm hiểu di sản văn hóa gia đình Việt Nam”, hay “Cuộc hành trình trở về cội nguồn” v.v… Ðặc biệt có những cuốn gia phả như trong “Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh Thị Hoan Châu ký” chép lại một dòng họ từ giữa thế kỷ 17 lại nay.

Tại câu lạc bộ UNESCO, thông tin các dòng họ Việt Nam cách đây không lâu đã tổ chức thành công hội thảo mang tên “Dòng họ với truyền thống văn hóa dân tộc”. Nhiều tham luận có giá trị như một công trình nghiên cứu văn hóa đặc thù Việt Nam.

Họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê, họ Phan, họ Ðặng… trăm họ tạo nên dân tộc. Trăm ngàn nhà tạo nên làng xã, làm nên Ðất Nước. Nhà có yên thì nước mới vững. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Quan niệm về Dân-Nước, về Làng-Nước quyện vào trong hình tượng Tổ quốc, Dân tộc. Dân tộc trường tồn trong nguồn mạch văn hóa cộng đồng. Dòng họ đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu được trong quá trình dựng nước và giữ nước. Gìn giữ bản sắc dân tộc, truyền thống cùng với phong tục tập quán văn minh, tạo nên nếp sống của dân tộc. Tìm về dòng họ, tìm về cội nguồn chính là tìm về truyền thống tốt đẹp của dân tộc của đất nước mình.

 Theo hanoi.vnn.vn

Phong tục cúng giỗ

Cúng giỗ

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong

Ngày cúng giỗ

Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày giỗ (ngày mất) làm trọng, cho nên ngày đó, ngoài việc thăm phần mộ, tuỳ gia cảnh và tuỳ vị trí người đã khuất mà cúng giỗ. Ðây cũng là dịp gặp mặt người thân trong gia đình trong dòng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đã khuất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống, nên mới gọi là ăn giỗ, thì cũng là trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn. Với ý nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” việc đó có thể xếp vào loại thuần phong mỹ tục.

Ngày giỗ theo âm Hán là huý nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cũng có nghĩa là ngày kiêng kỵ.

Nguyên ngày trước, “Lễ giỗ” gọi là “Lễ chính kỵ”; chiều hôm trước lễ chính kỵ có “lễ tiên thường” (nghĩa là nếm trước), con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, những nhà phú hữu mời bà con làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. Dần dần hoặc vì bận việc hoặc vì kinh tế hoặc vì thiếu người phục dịch, người ta giản lược đi, chỉ mời khách một lần nhưng hương hoa, trầu rượu vẫn cúng cả hai lễ. Tóm lại, nếu vận dụng đúng phong tục cổ truyền phổ biến trong cả nước thì trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.

Mấy đời tống giỗ

Theo gia lễ: “Ngũ đại mai thần chủ”, hễ đến năm đời thì lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần chủ ông khảo.

Theo nghĩa cửu tộc (9 đời): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); thân mình và tử, tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới mình). Như vậy là chỉ có 4 đời làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ (hay can), cụ (hay cố), ông bà, cha mẹ. Từ “Cao” trở lên gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của thuỷ tổ.

Cúng giỗ người chết yểu

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng). Những người đó có cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc anh ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Những người chưa đến tuổi thành thân (dưới 16 hoặc dưới 18 tuổi, tuỳ theo tục lệ địa phương) sau khi hết lễ tang yết cáo với tổ tiên xin phụ thờ với tiên tổ. Những người đó không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Ðiều này không có trong gia lễ nhưng thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất.

(Nguồn: tiepthihinhanhvietnam)

Chữ hiếu và phong tục thờ cúng của người Việt Nam

Ban thờ

Việc thờ cúng tổ tiên ở nước ta đã có từ rất lâu đời, được duy trì từ đời này qua đời khác, trở thành đạo lý, tập tục, truyền thống thấm sâu trong tiềm thức mỗi con người Việt Nam. Cố vấn Phạm Văn Đồng cho rằng: “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác.

Còn nói tôn giáo là thờ cúng tổ tiên thì mọi người đều thờ cúng ông, bà, mọi người đều thờ cúng tổ tiên…, từ góc độ văn hóa, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của con người Việt Nam, ở chỗ nó tưởng nhớ những người có công trạng trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay của mọi người, gia đình, làng xóm”.

Thờ cúng tổ tiên là thông qua những lễ nghi để tỏ lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ đã khuất. Trong tâm thức nhiều người Việt Nam tin rằng, tuy đã mất, nhưng vong hồn tổ tiên vẫn còn bên con cháu, che chở, nhắc nhở động viên mình. Do đó thờ cúng tổ tiên là đạo lý ở đời, là “đạo nhà” của người Việt Nam.

Thờ cúng tổ tiên là lễ nghi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với tổ tiên mỗi khi tuần tiết, giỗ kỵ, hoặc mùa có quả mới, gạo mới, hoặc trong nhà có việc trọng như ma chay, cưới xin, làm nhà, đi xa… Việc to, nhỏ tùy theo mà sắm lễ cúng, có thể làm cỗ mặn, cỗ chay hoặc chỉ lưng cơm, quả trứng, miễn là thành tâm. Như vậy, thờ cúng tổ tiên là sự thực hành chữ Hiếu, đạo Hiếu, bởi đối với người Việt Nam:

Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con.

Nho giáo và Phật giáo Việt Nam đều coi trọng chữ Hiếu. Theo Phật giáo, con cái không chỉ hiếu thuận cha mẹ một ngày mà là cả đời mình. Người Việt Nam theo Thiên chúa giáo cũng luôn kính hiếu với cha mẹ, tổ tiên. Ngày giỗ, nhiều tín đồ đến nhà thờ cầu nguyện cho hương hồn đã khuất, họ đi đắp mộ, đặt hoa tưởng nhớ tổ tiên. Chữ Hiếu không chỉ đơn thuần là cúng tiến, lễ lạt mà được cụ thể hóa bằng cách đối nhân xử thế với người đang sống. Từ ngàn xưa, ông cha ta đã có câu “sống thì chẳng cho ăn, đến khi chết mới làm văn tế ruồi” để chê bai những kẻ làm con không biết giữ tròn đạo hiếu khi ông bà, cha mẹ còn sống.

Kính hiếu với cha mẹ là thể hiện sự phụng dưỡng cha mẹ lúc về già, đừng nên “con nuôi cha mẹ con kể từng ngày”. Con cháu lúc bé thì “cậy cha” nương dựa vào ông, bà, cha mẹ, lúc về già thì “cậy con” trông nhờ sự phụng dưỡng, chăm sóc của con cháu.

Con cháu hiếu với tổ tiên không phải chỉ dừng lại ở lòng biết ơn, sự phụng dưỡng mà còn phải rèn luyện để nên người vì người già vẫn quan niệm “con hơn cha là nhà có phúc”.

Những năm gần đây, nhất là từ khi đổi mới, việc thờ cúng tổ tiên được nhiều người chú trọng. Đó là nét nghĩa của người Việt Nam, nó khơi gợi cho thế hệ sau đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, sống phải có tình nghĩa, trước sau. Song việc thờ cúng tổ tiên ở nhiều nơi, nhiều gia đình họ tộc có biểu hiện hơi thái quá. Có tiền của nhiều người xây mồ mả to vừa tốn kém lại vừa hạn chế đất canh tác. Mồ mả cần “yên”, “đẹp” chứ đâu cần to. Cái kính hiếu ở tâm linh và để tưởng nhớ, răn dạy con cháu chứ đâu phải cỗ bàn linh đình. Nếu quá chén, cãi vã, bất hòa trong tổ chức cúng giỗ thì càng làm tủi hổ tổ tiên, cần có sự hướng dẫn bằng dư luận, bằng hương ước mới của làng xã làm cho cái tinh túy ngàn xưa để lại càng tinh túy hơn trong thời đại mới. Đó là việc làm của cả cộng đồng, xã hội.
Chữ Hiếu không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, họ tộc mà còn được mở ra trong phạm vi làng nước. Thành Hoàng làng là người có công tạo dựng, phát triển cuộc sống của cả làng, hoặc có thể là người có công với nước được các cụ tổ xưa trong làng tôn thờ làm Thành Hoàng.

Gia đình – làng – nước trong tâm linh người Việt bao đỗi thân thương, gắn quyện với nhau trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa. Họ có tổ họ, làng có Thành Hoàng, nước có Tổ nước. Vua Hùng là Tổ của muôn dân nước Việt. Ngày 10-3 âm lịch hàng năm, người Việt từ khắp nơi, cả ở nước ngoài “về viếng Tổ là tỏ lòng kính hiếu tổ tiên, nhân thêm tình yêu thương con người, xứ sở”. Bác Hồ căn dặn chúng ta “Vua Hùng là người có công dựng nước ta. Như vậy Vua Hùng chính là ông Tổ của nước Việt Nam. Uống nước phải nhớ nguồn, con cháu thì phải nhớ đến tổ tiên. Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước! Đó mới là uống nước nhớ nguồn, mới là nhớ tổ tiên vậy”.
Đối với các chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến, các địa phương đều có nghĩa trang liệt sĩ để ghi công, tưởng nhớ. Ngoài phần bia mộ của các liệt sĩ còn có các bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ vô danh. Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn được khởi công xây dựng ngày 2-9-1993 và khánh thành ngày 29-8-1993 là ví dụ điển hình của phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trong cả nước.

Việc xây dựng nhà tình nghĩa nuôi dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ các gia đình có công với nước cũng thể hiện sinh động đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của nhân dân ta. Bao việc làm hiếu nghĩa khác trên khắp nước ta không những chỉ với gia đình, họ hàng mà còn với một cộng đồng rộng lớn: Tổ quốc. Những việc làm hiếu nghĩa ấy cần được làm thường xuyên, sâu rộng, được khuyến khích, trân trọng.

Trần Đăng Sinh

Giữ gìn bản sắc văn hoá trong thời kỳ hội nhập

Múa Rồng

Văn hóa Việt Nam, văn hóa Bác Hồ là văn hóa của con người, do con người, vì con người. Đó là sự chắt lọc, kế thừa và tiếp kiến liên tục trong dòng thời gian vô tận; văn hóa là sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới trở thành văn hóa. Giá trị văn hóa đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hóa mạnh mẽ con người hướng về cái chân, thiện, mỹ, dù chính kiến hay niềm tin có khác nhau.

Sức mạnh văn hóa Việt Nam-Văn hóa Bác Hồ đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt. Trải qua một nghìn năm bị đô hộ không những không bị đồng hóa mà còn tích lũy và phát triển trở thành lực lượng vô tận vùng lên giành lại độc lập cho đất nước. Đó là nhờ dân ta đã giữ vững được nền văn hóa của dân tộc. Chúng ta đánh thắng những kẻ địch xâm lược mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Đó là nhờ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng kết hợp với trí thông minh, sáng tạo. Sự nghiệp đổi mới giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử càng chứng tỏ sự bền vững, sức sống, sáng tạo của nền văn hóa Việt Nam-Hồ Chí Minh. Trong tình hình hiện nay đặt ra cho chúng ta phải xây dựng đời sống xã hội “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

 Trong điều kiện sống đầy đủ, người Việt Nam vẫn tiết kiệm, khiêm tốn trong chi tiêu, hưởng thụ. Trong quan hệ xã hội người Việt Nam “Tôn sư trọng đạo”, tôn trọng người có công với dân tộc làm đầu. Giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa thế giới, người Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh văn hiến dân tộc, giữ danh dự tâm hồn trong sáng. Tinh thần khiêm tốn học hỏi, cầu thị vì sự tiến bộ và phát triển đất nước, con người trước quan hệ quốc tế luôn được đề cao. Trong quan hệ giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm cộng đồng và cá nhân, thái độ “đói cho sạch, rách cho thơm”, tinh thần “Thương người như thể thương thân” luôn là bản sắc văn hóa trong cuộc sống, ứng xử của người Việt Nam.

Hiện nay đồng tiền đang chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ và hành vi đối xử của con người, nó đang góp phần làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống nhân văn của nhân dân ta. Điều đáng nói là, nhiều nếp sống thể hiện thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc ta bị thương mại hóa. Đời sống tinh thần, tâm linh của lễ giáo, nơi tôn nghiêm của các lễ hội cũng trở thành nơi kinh doanh trục lợi của không ít cá nhân và tập thể. Cưới xin là lễ tục truyền thống vô cùng thiêng liêng của mỗi đời người giờ đây cũng trở thành dịp tính toán lời lãi. Người ta đến đám cưới không phải là đến với tình cảm, bạn bè mà là để biếu xén, trả công, trả nợ nhau. Lễ sinh nhật, lễ mừng thọ không còn là ngày kỷ niệm những mốc trưởng thành và hạnh phúc lâu bền, lại là dịp tâng bốc nhau, thực hiện những mục đích đã định.

Kinh tế phát triển, cuộc sống sung túc đem lại một không khí giao tiếp, ứng xử văn minh, lịch sự. Đó là nền tảng và điều kiện cho sự phát triển từng bước vững chắc ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước. Xã hội ta ngày càng trở nên văn minh, con người ngày càng có được dân chủ với tư cách cá nhân, cũng như với tư cách tập thể. Tất cả những điều đó làm cho mọi hoạt động, mọi quan hệ xã hội ta ngày càng trở nên lành mạnh, song nơi này nơi kia chúng ta thấy nền kinh tế thị trường đang làm nảy sinh quan hệ chủ tớ và ngày càng nặng nề. Không thiếu hiện tượng thủ trưởng dùng quyền hành để áp đặt công việc và cả hành vi cho cán bộ, nhân viên, bắt nhân viên tuân theo mệnh lệnh tuyệt đối của mình. Tình trạng mất dân chủ không chỉ xuất hiện trong công tác mà cả trong quan hệ cá nhân còn rất trầm trọng. Dân chủ nhiều nơi, nhiều lúc chỉ là hình thức.

Ở nhiều địa phương tiếp dân không chu đáo. Những ý kiến, kiến nghị của dân không được giải quyết, còn vòng vo đùn đẩy lên cấp trên. Có nơi còn trù dập cán bộ dưới quyền, hách dịch nhân dân, trù dập những người dũng cảm dám phát hiện, tố cáo, đấu tranh với những hiện tượng và hành vi sai trái của cán bộ lãnh đạo.

Mỗi cấp, mỗi ngành trong tỉnh cùng toàn Đảng, toàn dân “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hình thành đạo đức tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử. Đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa xây dựng nhân cách, nhân văn cao đẹp trong mỗi người, trong tập thể và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Tục thờ Thành hoàng

Rước kiệu

Tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức người nông dân Việt, trở nên hết sức đa dạng

Thành hoàng có thể là một vị thiên thần như Phù đổng Thiên vương, một thần núi như Tản Viên Sơn thần, một vị nhân thần có công với dân với nước như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Dã Tượng… lại có khi là các yêu thần, tà thần… với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô lý. Tuy nhiên các thành hoàng được sắc vua phong (trừ những tà thần, yêu thần…) luôn luôn tượng trưng cho làng xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, của đạo đức, phong tục, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng. Thành hoàng có sức toả sáng vô hình như một quyền uy siêu việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ thống chặt chẽ.

Theo tục lệ xưa, các đời vua thường phong các vị thành hoàng thành ba bậc: Thượng đẳng thần, Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần, tuỳ theo sự tích và công trạng của các vị thần đối với nước với dân, với làng xã. Các vị thần cũng được xét đưa từ thứ vị nọ lên thứ vị kia, nếu trong thời gian cai quản các vị này đã phù hộ, giúp đỡ được nhiều cho đời sống vật chất và tâm linh của dân chúng. Việc thăng phong các vị thành hoàng căn cứ vào sớ tâu của làng xã về công trạng của các vị thần. Sớ này phải nộp về triều đình trong một thời gian quy định. Mỗi lần thăng phong triều đình đều gửi sắc vua ban rất linh đình và cất nó trong hòm sắc thờ ở hậu cung đình làng.

Thành hoàng cũng được gọi là phúc thần, tức vị thần ban phúc cho dân làng, thường mỗi làng thờ một thành hoàng, xong cũng có khi một làng thờ hai, ba hoặc hai ba làng thờ một vị. Thành hoàng có thể là nam thần hay nữ thần, tuỳ sự tích mỗi làng.

Đình làng là nơi thờ phụng thành hoàng và trở thành một biểu tượng văn hoá tâm linh của mỗi người dân quê Việt. Làng nào cũng có đình, có khi mỗi thôn lại có một đình riêng. Đình để thờ thành hoàng nhưng đồng thời cũng trở thành nơi hội họp của chức sắc trong làng, hay là nơi sinh hoạt của cộng đồng làng xã. Mọi hoạt động này đều xảy ra ở đình với sự chứng kiến của thành hoàng.

Trong tâm thức người dân quê Việt, Đức thành hoàng là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Các thế hệ dân cứ tiếp tục sinh sôi nhưng thành hoàng thì còn mãi, trở thành một chứng tích không thể phủ nhận được của một làng qua những cơn chìm nổi.

Có thể cho rằng, thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Cho nên sự thờ phụng thành hoàng xét cho cùng là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói gia phong của làng.

Chính sự thờ phụng này là sợi dây liên lạc vô hình, giúp dân làng đoàn kết, nếp sống cộng cảm hoà đồng, đất nề quê thói được bảo tồn. Vì lẽ đó, các hương chức cũng như các gia đình trong làng, mỗi khi muốn mở hội

hoặc tổ chức việc gì đều phải có lễ cúng thành hoàng để xin phép trước. Có lẽ, sự ngưỡng mộ thành hoàng cũng chẳng kém gì sự ngưỡng mộ tổ tiên.

Ngày nay, lễ hội làng đang phát triển mạnh mẽ và nở rộ ở khắp nơi. Tục thờ cúng thành hoàng, diễn lại thần tích, rước xách, tế lễ đang được phục hồi, vì có như vậy mới ghi nhớ được công lao của các vị tiền bối với nước, với làng.

(nguồn: sưu tầm internet)