Miếu tổ họ Thành và những ngày kỵ


Địa chỉ: 385 phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

Thời gian xây dựng: không rõ ngày tháng năm nào.Trong miếu có bia bài vị đề cụ cụ Khởi Tổ lại không ghi năm tháng, tôi đành lấy mốc thời gian theo bia Hậu Thần là tháng 10 năm 1711.

Trong miếu có ba bia:

1. Bia bài vị thờ Khởi Tổ đề: “Khởi Tổ Đô Đài Ngự Sử Thành Tổ Công, húy Quang Dụ, tự Chương Bản thần vị”

Nếu theo cuốn “Thành tộc phả ký” ghi đầy đủ là: Khởi Tổ Đô Đài Ngự Sự Thành Tổ Công Húy Quang Dụ, hiệu Khánh Dư, tự Chương Bản.

Ngài làm quan đời nhà Lê (chưa rõ Tiền Lê hay Hậu Lê).

Giỗ ngài: 6/3 âm lịch (Tam Nguyệt sơ lục nhật kỵ)

2. Bia Hậu Phật: Thờ hai người: Thành Quý Công và Nguyễn Tư Nương.

Mặt sau bia hình thức cúng lễ: “gà một con, cơm một niêu, rượu một vò, trầu cau một phong” và lời nguyền: “Trời đất chứng giám: kẻ nào phế bỏ những ngày kỵ nhật này sẽ bị chu di tuyệt diệt”.

Hai bên thân bia ghi tên người ngoài họ Thành ra còn nhiều người tộc họ khác là chức sắc của xã bấy giờ.

Ngày giỗ: 7/8 âm lịch

3. Bia Hậu Thần: Mặt trước bia khắc một bài Ký do một ông quan Giám Sát Ngự Sử đạo Nghệ An viết. Nội dung ca ngợi một người nữ họ Thành tên là Thành Thị Dụ (Tú). Ngài đức độ hơn người: làm việc thiện là giữ điều nhân. Hai bên thân bia khắc đôi câu đối như một lời sấm truyền, khiến các bậc túc nho còn đương bàn thảo.

Mặt sau bia dưới hàng chữ “Vạn đại lưu truyền” là danh tính của: 19 người họ Nguyễn, 12 người họ Thành, 6 người họ Phạm, 3 người họ Đặng

Ngày lễ: 21/4 âm lịch

Trong miếu còn một ngày lễ nữa trước khi ông Công, ông Táo cưỡi cá chép lên trời là ngày lễ tạ cuối năm: ngày 21/12 âm lịch

Như vậy trong miếu có một giỗ, ba lễ: 6/3 giỗ Khởi Tổ; 21/4 Lễ Hậu Thần; 7/8 Lễ Hậu Phật; 21/12 Lễ tạ tất niên.

Để tạo điều kiện thuận tiện cho mọi người trong họ đến lễ, ban trị sự miếu quyết định có thể lễ sớm hơn một ngày nếu ngày hôm sau rằm, mùng một rơi vào ngày thứ hai của tuần.

Viết phần này tôi dựa vào tư liệu “Thành tộc phả ký”.

Thành Dương Phụng

Họ Thành ở Việt Nam

Họ Thành xuất hiện và tồn tại ở ViệtNamkhoảng gần 4 thế kỷ. Về nguồn gốc có hai giả thuyết:

– Từ họ Vũ chuyển sang (Theo ông Thành thế Vỹ và ông Phùng Uông)

– Từ Trung Quốc (Theo một cuốn Kỵ phả viết tay. Cuối cuốn Kỵ phả này có vẽ sơ đồ mộ chí, cây phả hệ)

Đến đầu thế kỷ 18 thì chia thành bốn phái: Căn, Ất, Bính, Đinh. Chi Căn chuyển cư vào Nghệ An, từ khi có “động” ở miếu Tổ, đã trở về cội nguồn với người họ Thành tại Hà Nội.

Sự chuyển cư, đổi họ của người họ Thành

            Chuyển cư:

Những người họ Thành chuyển cư lâu đời nhất là họ Thành ở Nghệ An, sau đó đến họ Thành tại Tây Ninh. Cũng như nhiều dòng họ khác, do hoàn cảnh lịch sử, do công việc, sinh kế hiện nay họ Thành phát tán khắp nơi:

–                             Miền Bắc: Hà Nội, Hà Đông,NamĐịnh, Hải Phòng, Bắc Giang, Nghệ An, Thanh Hóa.

–                             Miền Trung: QuảngNamĐà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang

–                             MiềnNam: Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bến Tre…

–                             Nước ngoài: Anh, Pháp, Mỹ, Ca- na- đa…

Đổi họ:

Người họ Thành do nhiều hoàn cảnh khác nhau cũng đã có việc đổi họ, từ họ Thành sang họ khác như:

–                             Họ Thành đổi sang họ Đào (Đào Xuân Trường)

–                             Họ Thành chuyển sang họ Lý (Ông Thành Xuân Sếu là lý trưởng thời Pháp thuộc. Khi ông qua đời, người con cả của ông là Thành Xuân Việt đổi thành Lý Hoài Việt – tức Lý nhớ Việt chứ không dính líu gì đến họ Lý ở Bắc Ninh cả)

–                             Họ Thành chuyển sang họ mẹ- họ Trần (Thành Xuân Chử)

–                             Họ Thành chuyển sanh họ Nguyễn

Cũng có trường hợp ngược lại, lấy họ mẹ là người họ Thành như Thành Quang Niên ở Tây Ninh, Thành Quang Đức, Thành Quang Sơn ở Hà Nội.